Thứ Ba, 5 tháng 12, 2017

LỢI DỤNG LÚC NƯỚC NHÀ CÓ VIỆC LỚN
ĐỂ XUYÊN TẠC VẤN NHÂN QUYỀN Ở VIỆT NAM

Đầu tháng 11/2017, Việt Nam đã tổ chức thành công rực rỡ Tuần lễ Cấp cao APEC 2017 với sự có mặt của 21 nhà lãnh đạo các nền kinh tế lớn nhất thế giới. Đây là sự kiện có ý nghĩa quan trọng để quảng bá hình ảnh Việt Nam trên đà phát triển với bạn bè quốc tế, tăng cường mở rộng hoạt động đối ngoại và hội nhập kinh tế ngày càng sâu, rộng được cộng đồng quốc tế và nhân dân cả nước đặc biên quan tâm, theo dõi.
Nhân cơ hội nước nhà chuẩn bị có việc lớn, trước thềm Hội nghị Cấp cao APEC diễn ra tại thành phố Đà Nẵng, trên nhiều trang mạng xã hội và báo hải ngoại xuất hiện khá nhiều bài viết xuyên tạc, bóp méo, vu cáo Việt Nam vi phạm nhân quyền, nhằm kích động, chia rẽ đoàn kết dân tộc và tạo ra dư luận xấu, hiểu lầm về vấn đề nhân quyền ở Việt Nam trong bạn bè quốc tế. Điển hình là đối tượng Ngô Thanh Hải trước đây là sĩ quan quân lực Việt Nam Cộng hoà nay là Nghị sĩ Đảng Bảo Thủ Canada đã trình bức thư lên lãnh đạo nhà nước Canada với nội dung xuyên tạc, bịa đặt về tự do tôn giáo, tự do nhân quyền và vấn đề Formosa ở Việt Nam. Đồng thời hắn đề nghị lãnh đạo Canada trao đổi với lãnh đạo Việt Nam về giải quyết vấn đề nhân quyền, tự do tôn giáo đối với những người “tù nhân lương tâm”, “nhà hoạt động nhân quyền” hay “dân oan” như: Nguyễn Ngọc Như Quỳnh (tức blogger Mẹ Nấm), Trần Thị Nga, Cấn Thị Thêu, Trần Thị Xuân…đang bị chúng ta bắt giam và xử lý về tội chống phá nhà nước nhằm lật đổ chính quyền cách mạng.
Mặc dù không được truyền thông quốc tế và công luận ủng hộ nhưng để hà hơi, tiếp sức cho những đối tượng phản động lưu vong hải ngoại, một số bài trên trang Youtube vẫn không ngừng thổi phồng, bóp méo sự việc, xuyên tạc cho rằng “Quốc tế kêu gọi tẩy chay hội nghị APEC vì Việt Cộng đàn áp nhân quyền”. Đặc biệt, nực cười hơn chúng đã lẻo mép bịa đặt đưa tin là Tổng thống Donald Trump đã “dằn mặt” Việt Nam vì vi phạm nhân quyền. Trong khi đó Giáo sư Ngô Vĩnh Long ở Hoa Kỳ trả lời một tờ báo hải ngoại cũng thừa nhận thực tế không có chuyện Tổng thống Hoa Kỳ Donald Trump can thiệp vấn đề nhân quyền tại hội nghị Cấp cao APEC. Ngược lại, tại đây Tổng thống Hoa Kỳ Donald Trump đã ghi nhận nhiều thành tựu, nỗ lực của Việt Nam vì quyền con người. Ông nói: “Ngày nay, chúng ta không còn là kẻ thù nữa. Chúng ta là bạn. Và thành phố cảng này ngày càng tấp nập, nhộn nhịp với tàu, thuyền từ khắp nơi trên thế giới đổ về. Những công trình kỳ công, như Cầu Rồng, chào đón hàng triệu người đến tham quan, tận hưởng, những bãi biển tuyệt đẹp, ánh đèn rực rỡ, cũng như những nét quyến rũ cổ xưa của Đà Nẵng... Đầu thập niên 1990, gần một nửa người dân Việt Nam sống với chỉ vài USD mỗi ngày và cứ 4 người lại có một người phải chịu cảnh thiếu điện. Ngày nay, Việt Nam, với nền kinh tế mở cửa, là một trong những nền kinh tế tăng trưởng nhanh nhất thế giới, tăng hơn 30 lần. Sinh viên, học sinh Việt Nam được xếp vào hàng những người trẻ ưu tú nhất toàn cầu. Điều đó thật ấn tượng!”.
Trong Tuyên bố chung Việt Nam - Canada của Thủ tướng Canada Justin Trudeau trong dịp tham dự Tuần lễ Cấp cao APEC đã nêu rõ: “Canada và Việt Nam ghi nhận tầm quan trọng của việc bảo vệ và phát huy nhân quyền tuân theo hiến pháp của mỗi nước và các cam kết quốc tế, bao gồm việc thực thi Công ước Liên hợp quốc và Tuyên bố phổ quát về nhân quyền”.
Từ những lời nhận xét của Tổng thống Hoa Kỳ Donald Trump và Thủ tướng Canada Justin Trudeau về vấn đề nhân quyền của Việt Nam trong dịp tham dự hội nghị Cấp cao APEC đã vô hình dung “phản pháo” mạnh mẽ vào những luận điệu xuyên tạc, vu cáo vấn đề nhân quyền và tự do tôn giáo ở Việt Nam của các đối tượng phản động hải ngoại vừa qua.
HOA SÚNG


TRÊN ĐỊA BÀN QUÂN KHU 7
Chiến lược "Diễn biến hoà bình" của các thế lực thù địch nhằm xoá bỏ chế độ chính trị xã hội của các nước tiến bộ, trước hết là các nước xã hôi chủ nghĩa (XHCN) chủ yếu bằng biện pháp phi quân sự; núp dưới chiêu bài tự do, dân chủ, nhân quyền, kích động các mâu thuẫn tôn giáo, dân tộc, sắc tộc; triệt để khai thác và lợi dụng những khó khăn, sai sót của nhà nước hiện hành, làm trầm trọng thêm tình hình; thường “diễn biến hoà bình” được kết hợp với thủ đoạn bạo loạn lật đổ. Ở các thành phố lớn, nơi có đông dân cư và cơ cấu xã hội là mảnh đất hứa cho chúng thực hiện chiến lược đó. Từ cách hiểu trên, ta cần tìm hiểu những đặc điểm của các thành phố lớn trên địa bàn Quân khu 7. Trong đó đặc biệt chú ý đến những vấn đề do lịch sử để lại và thực trạng xã hội làm cơ sở lý luận và thực tiễn cho việc đề phòng và giải quyết các trường hợp bạo loạn (nếu xảy ra).
Trên địa bàn Quân khu 7 có 5 thành phố lớn là: Thành phố Hồ Chí Minh, Biên Hoà, Vũng Tàu, Đà Lạt, Phan Thiết. Ngoài ra còn có một số thị xã lớn đang phát triển rất nhanh như Bình Dương... Trong số đó có 3 thành phố quan trọng nhất đang là tam giác trọng điểm kinh tế của đất nước (Thành phố Hồ Chí Minh - Biên Hoà - Vũng Tàu), đồng thời cũng là trọng điểm chống phá bằng “diễn biến hoà bình” của kẻ địch... Ba thành phố trên đều có lịch sử hình thành rất sớm (Sài Gòn và Biên Hoà có từ thế kỷ XVII - thời nhà Nguyễn; Vũng Tàu có từ thời Pháp thuộc); một số thành phố như Phan Thiết tuy mới, song tất cả đã trải qua các chế độ chính trị: phong kiến, thuộc địa thực dân cũ và thực dân mới, XHCN. Trong đó thời gian tồn tại dưới chế độ XHCN còn rất ngắn so với thời gian dưới chế độ thực dân phong kiến, cho nên những vấn đề lịch sử để lại là rất quan trọng mà chúng ta cần phải nghiên cứu... Trong thời phong kiến thực dân, Sài Gòn luôn là trung tâm chính trị, kinh tế, quân sự của cả Nam Bộ, ở đó giai cấp công nhân hình thành sớm và đấu tranh rất mạnh cùng với tầng lớp dân nghèo, nhưng cũng là nơi tập trung đông nhất các thế lực phản động của bọn xâm lược và tay sai. Đó cũng là nơi du nhập sớm nhất và phát triển mạnh nhất lối sống của chủ nghĩa thực dân cũ và mới, tạo ra một lớp người chuyên sống bằng cách lừa đảo, trộm cắp và những nghề không lương thiện.
Sau ngày giải phóng hoàn toàn Miền Nam (30.4.1975), trong một thời gian ngắn, các tệ nạn xã hội tạm lắng xuống, sau đó lại phục hồi dần trong giai đoạn khủng hoảng kinh tế và có điều kiện phát triển trong cơ chế thị trường, tạo ra lớp người mới với lối sống cũ. Thành phần này là đối tượng móc nối chủ yếu của các thế lực phản động để thực hiện thủ đoạn bạo loạn, vì họ rất dễ bị mua chuộc bằng tiền và thường hành động thiếu trách nhiệm với bản thân và cộng đồng. Ngoài ra, một số ngụy quân, ngụy quyền vẫn chưa từ bỏ hận thù... họ cũng rất dễ bị kích động và bị lợi dụng vào các việc chống đối chính quyền. Mặt khác, theo "Kế hoạch hậu chiến", số người gài lại để chống phá ta hầu hết ở các thành phố lớn. Bọn này tạo được nhiều vỏ bọc khác nhau - trong đó có những tên đội lốt tôn giáo để chống phá cách mạng. Đây là lực lượng chủ yếu thúc đẩy chiến lược “diễn biến hoà bình” và tổ chức bạo loạn khi có thời cơ.
Địa bàn Quân khu 7 có hơn 500 km đường biên giới trên đất liền và hơn 300km bờ biển. Những nơi đây địa hình khá phức tạp nên bọn phản động từ bên ngoài thường xuyên tìm cách xâm nhập để vào các thành phố lớn. Trên đây là những lực lượng chủ yếu có thể tạo ra và tham gia vào các hoạt động bạo loạn ở các thành phố lớn. Tuy nhiên, nếu chỉ có các lực lượng này thì dù có được các thế lực bên ngoài hỗ trợ cũng không thể tạo ra được các hoạt động có tính chất bạo loạn nếu như chúng không kích động lôi kéo được một số bộ phận quần chúng nhân dân. Vậy chúng ta cần tìm hiểu những khả năng nào quần chúng nhân dân có thể bị kích động.
Chúng ta đều hiểu, những người dân bình thường nếu không có điều gì bức xúc về quyền lợi vật chất hoặc tinh thần thì bọn người xấu dù có kích động thế nào họ cũng không bỏ công việc làm ăn để chạy theo những việc vô bổ. Như vậy, người dân bị kích động hoặc bị lừa bịp chỉ khi nào bản thân họ có sự bất bình. Có hai nguyên nhân cơ bản dẫn đến sự bất bình đó là:
Một là, do các cấp chính quyền cơ sở không thi hành đúng các chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước, vi phạm quyền làm chủ của nhân dân, xâm hại đến quyền lợi vật chất và tinh thần của họ.
Hai là, một số người dân chưa giác ngộ về quyền lợi lâu dài của xã hội, của đất nước, chỉ lo cho quyền lợi trước mắt của cá nhân, gia đình, từ đó nảy sinh tâm lý, thái độ, hành vi bất bình. Ngay cả do nguyên nhân này thì suy cho cùng cũng là do chính quyền cơ sở chưa làm tốt công tác tuyên truyền, giải thích cho nhân dân. Chính quyền cơ sở có vai trò cực kỳ quan trọng đối với vấn đề nhân dân có hiểu và ủng hộ những chủ trương, chính sách của Đảng hay không? Nhưng trên thực tế, ở một số nơi, chính quyền cơ sở của chúng ta còn rất yếu và dường như chưa được chú ý một cách thích đáng để nâng cao trình độ cho đội ngũ cán bộ này.
Khi nghiên cứu về âm mưu “diễn biến hoà bình”, bạo loạn lật đổ, chúng ta không nên quên một lực lượng đồng minh rất quan trọng của chúng là bọn tham nhũng. Bản chất của những kẻ tham nhũng là cá nhân, cơ hội. Chúng ra sức nói hay nói tốt để "leo cao" nhưng khi tình hình xã hội có biến động thì chúng là người đầu tiên "trở cờ" biến thành lực lượng đối lập, liên kết với các thế lực chống đối khác. Đây là lực lượng tiềm ẩn nguy hiểm, vì chúng không đáng tin cậy trong thực thi kế hoạch cụ thể của các phương án chống bạo loạn lật đổ. Ngay cả khi chưa "trở cờ" thì chúng vẫn là lực lượng chủ yếu "làm nghèo đất nước", làm băng hoại đạo đức. Trực tiếp tạo ra nỗi bất bình của nhân dân để cho bọn kích động bạo loạn lợi dụng tình trạng này.
Khi nghiên cứu vấn đề phòng, chống “diễn biến hoà bình”, bạo loạn lật đổ, chúng ta đều quán triệt quan điểm lấy biện pháp "phòng" là chính nhưng không loại trừ khả năng nó xảy ra nên phải nghiên cứu cả các biện pháp "chống". Từ những cơ sở phân tích về lực lượng và nguyên nhân xảy ra bạo loạn lật đổ như trên ta thấy hoàn toàn có thể đề phòng được nếu ta biết vấn đề cốt lõi nằm ở đâu? Một bộ phận quần chúng nhân dân ở đâu đó có bất bình với chính quyền thì đó không phải là lực lượng nòng cốt trong bạo loạn lật đổ. Phải hiểu là bọn phản động đã lợi dụng những bất bình ấy vào mục đích của chúng. Như vậy, vấn đề "phòng" bạo loạn lật đổ phải thực hiện ở tầm vĩ mô, mà thực chất là xây dựng bộ máy chính quyền vững mạnh, chống tham nhũng và nâng cao trình độ, phẩm chất của cán bộ chính quyền các cấp, nhất là cán bộ chính quyền cơ sở, những người trực tiếp tiếp xúc với nhân dân.
Từ những quan điểm trên và từ kinh nghiệm thực tế giải quyết một số "điểm nóng" trên địa bàn Quân khu những năm gần đây, ta có thể rút ra một số vấn đề chính sau:
Một là, ở mỗi "điểm nóng" có nhiều đối tượng, mỗi đối tượng có cách hiểu vấn đề và mục đích đấu tranh khác nhau nên trong quá trình trấn an, giải thích cần kết hợp với phân hoá lực lượng bằng thái độ chân thành đối với những bất bình chính đáng của nhân dân, đồng thời kiên quyết với những kẻ chủ mưu gây rối.
Hai là, không sử dụng vũ lực trước, không sử dụng vũ khí đối với những đối tượng không có vũ khí, nếu ta không làm như vậy tức là mắc mưu khiêu khích của kẻ địch và làm cho sự kích động của quần chúng càng tăng lên.
Ba là, cô lập "điểm nóng", cách ly nó với nhân dân càng xa càng tốt, cụ thể là ở thành phố, nếu có điểm nóng thì phải hướng dẫn đổi hướng giao thông từ xa.
Trên đây là một số nội dung về phòng, chống chiến lược “diễn biến hoà bình”, bạo loạn lật đổ trên địa bàn Quân khu 7, mọi người cần phải cảnh giác và tích cực đấu tranh làm thất bại những âm mưu, thủ đoạn thâm độc của các thế lực thù địch góp phần bảo vệ vững chắc an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội trên địa bàn Quân khu./.

                                                                                                                                             BIỂN RỘNG
NẤC THANG MỚI CỦA LUẬN ĐIỆU SAI TRÁI, XUYÊN TẠC
          Thời gian vừa qua, trên các trang mạng xã hội đã phát tán nhiều bài viết của các nhân vật tự xưng là đấu tranh cho dân chủ với quan điểm cho rằng: Nguyên nhân tham nhũng ở Việt Nam là do chế độ độc đảng sinh ra. Đây là một trong những luận điệu sai trái được các thế lực tuyên truyền nhằm xuyên tạc quyết tâm phòng, chống tham nhũng của Đảng ta. Chúng cố tình "lờ tịt" một sự thật hiển nhiên là tham nhũng đang là vấn nạn chung của toàn cầu và của nhiều chính thể trên thế giới. Chế độ chính trị một đảng cầm quyền không phải là nguyên nhân sinh ra tệ nạn tham nhũng.
          Một phương cách thực hiện "diễn biến hòa bình" kiểu mới: Trong các bài viết của mình, các nhà "dân chủ" rêu rao rằng, tham nhũng thuộc về bản chất của chế độ độc đảng, không thể cải tạo, cần phải hủy bỏ. Với chế độ độc đảng và  nền chính trị hiện thời, Việt Nam không thể chống được tham nhũng. Họ cho rằng, muốn chống tham nhũng thì phải chấp nhận đa đảng đối lập. Hùa vào với luận điệu trên, không ít hãng thông tấn quốc tế cùng những kẻ "té nước theo mưa" đã hô hào, thổi phồng, xuyên tạc trắng trợn tình hình tham nhũng và công tác phòng, chống tham nhũng ở Việt Nam. Trước hết, có thể thấy, việc các nhà "dân chủ" đưa ra quan điểm tham nhũng thuộc về bản chất của chế độ là một sự cố ý xuyên tạc tình hình Việt Nam để gây hoang mang, dao động trong cán bộ, đảng viên và Nhân dân; làm mất uy tín của Đảng, Nhà nước và chống phá chế độ ta. Đây chính là một phương cách để chúng thực hiện "diễn biến hòa bình" với hy vọng có thể thay đổi thể chế chính trị ở Việt Nam. Với lối suy diễn chủ quan, võ đoán, chúng đang dựa vào hiện tượng để lập lờ thay đổi bản chất; để không thấy hoặc cố tình không thấy bản chất của tham nhũng là sự tha hóa quyền lực vì lợi ích cá nhân của một nhóm người làm phương hại đến lợi ích của cá nhân khác, của tập thể và xã hội. Tham nhũng luôn gắn với cá nhân có quyền lực và tồn tại ở mọi chế độ chính trị xã hội; nó luôn gắn với vấn đề quyền lực nhà nước. Ở quốc gia nào cũng vậy, trong mỗi thời điểm nhất định đều do một đảng cầm quyền; khi đó người đứng đầu và các chức vụ quan trọng của chính quyền đều do người của đảng đó đảm nhiệm. Tất nhiên, ở những nước có nền dân chủ lâu đời, có hệ thống luật pháp hoàn chỉnh, chặt chẽ và xã hội được tổ chức ở trình độ cao thì nạn tham nhũng có phần hạn chế hơn. Bởi vậy, nếu nói tham nhũng do chế độ độc đảng sinh ra sẽ là ngụy biện. Hiện nay, trên thế giới có chưa tới 10 nước theo chế độ một đảng cầm quyền, còn lại là các nước có nhiều đảng. Theo công bố của Tổ chức minh bạch quốc tế về thực trạng tham nhũng trên thế giới thời điểm đầu năm 2017, nhiều quốc gia đa đảng ở châu Á, châu Phi vẫn bị xếp vào danh sách các nước có nhiều tham nhũng. Việt Nam đứng thứ 112/168 trong danh sách mức độ tham nhũng. 56 nước có mức độ tham nhũng lớn hơn Việt Nam chủ yếu là các quốc gia đa đảng. Thực tế này cho thấy, dù là chế độ một đảng cầm quyền hay đa đảng thay nhau cầm quyền thì nạn tham nhũng vẫn luôn xảy ra.
          "Lập lờ đánh lận con đen": Nếu ai đã từng tiếp xúc với những thông tin nhảm nhí, xuyên tạc thực tiễn công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng ở Việt Nam hiện nay trên các trang mạng xã hội do các thế lực phản động, thù địch, cơ hội chính trị ngụy tạo nên, sẽ không khó để nhận ra những âm mưu thâm hiểm đi kèm. Trong các bài viết theo kiểu "lập lờ đánh lận con đen", cho rằng nguyên nhân tham nhũng ở Việt Nam là do độc đảng sinh ra, các đối tượng lợi dụng triệt để thông tin một vài vụ án tham nhũng có liên quan đến cán bộ, đảng viên đã bị đưa ra ánh sáng pháp luật nhằm suy diễn, xuyên tạc, bóp méo quan điểm rồi cho rằng tham nhũng là bản chất, là hệ quả của cơ chế lãnh đạo tuyệt đối của Đảng. Qua đó chúng rắp tâm dựng lên một bức tranh xã hội toàn màu tối, phủ nhận những nỗ lực, sự quyết liệt trong cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng mà Đảng, Nhà nước và Nhân dân ta đang tiến hành. Chúng ta cũng không né tránh một sự thật là ở Việt Nam, cho đến thời điểm hiện tại, tình trạng tham nhũng vẫn diễn ra nghiêm trọng ở nhiều cấp, nhiều ngành, nhiều lĩnh vực với tính chất, mức độ ngày càng nghiêm trọng, phức tạp. Tuy nhiên, nói như các nhà "dân chủ" chỉ khi nào ở Việt Nam có chế độ đa đảng thì nạn tham nhũng mới có thể được dẹp bỏ lại là “hoang đường”. Thực chất, đây là nấc thang mới của luận điệu lừa bịp, xuyên tạc nhằm thực hiện chiến lược "diễn biến hòa bình"; gieo rắc hoài nghi trong cán bộ, đảng viên, Nhân dân đối với quyết tâm chống tham nhũng, qua đó, làm xói mòn, mất lòng tin của nhân dân với Đảng và Nhà nước, từng bước tạo ra "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ. Từ trước đến nay, Đảng và Nhà nước ta luôn khẳng định tham nhũng là giặc nội xâm, nếu không được giải quyết triệt để thì tương lai đất nước, chế độ bị đe dọa. Do vậy, cùng việc hoàn thiện bộ máy; Đảng, Nhà nước, Chính phủ Việt Nam đã và đang thể hiện quyết tâm cao trong công tác phòng chống tham nhũng với phương châm không khoan nhượng, không chùn bước, quyết liệt, nghiêm minh, đúng pháp luật. Trước mắt tập trung xử lý dứt điểm các vụ tham nhũng nghiêm trọng, phức tạp, được dư luận xã hội và Nhân dân quan tâm.
          Tham nhũng là vấn đề không của riêng quốc gia nào và ở Việt Nam hiện nay, tình trạng tham nhũng vẫn diễn biến phức tạp, nghiêm trọng với những thủ đoạn tinh vi, trong khi công tác phát hiện, xử lý vụ việc, vụ án tham nhũng chưa đáp ứng yêu cầu. Song, không phải vì vậy mà chúng ta cho phép các thế lực thù địch, phản động và bọn cơ hội chính trị lợi dụng những tồn tại, hạn chế trong phòng chống tham nhũng để xuyên tạc, bóp méo sự thật, gây tâm lý hoài nghi, hoang mang trong các tầng lớp Nhân dân. Hơn lúc nào hết, cần nhận thức rõ những âm mưu, thủ đoạn của chúng. Những nỗ lực cùng kết quả trong công tác đấu tranh phòng chống tham nhũng cần thường xuyên được cập nhật, lan tỏa trong đời sống xã hội. Đây chính là bằng chứng xác thực nhất bác bỏ những luận điệu tuyên truyền phiến diện, lừa bịp của các thế lực thù địch, phản động và phần tử cơ hội chính trị đang cố tình lợi dụng vấn đề này ở Việt Nam để thực hiện mưu đồ đen tối của chúng.
NHÂN TRẦN


CẢNH GIÁC TRƯỚC NHỮNG LUẬN ĐIỆU CHỐNG PHÁ QUÂN ĐỘI
CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH HIỆN NAY
          Thời gian qua, lợi dụng các sự kiện chính trị, một số “điểm nóng” xảy ra trong nước liên quan đến đời sống sinh hoạt, quyền lợi chính trị, kinh tế của các tầng lớp Nhân dân; tình hình biên giới, biển đảo, dân tộc, tôn giáo, dân chủ, nhân quyền; một số đối tượng phản động, cơ hội chính trị đã tán phát nhiều tài liệu có nội dung nói xấu Quân đội, nhất là chúng lợi dụng ý kiến của một số đại biểu Quốc hội về việc mở rộng Sân bay Tân Sơn Nhất để tăng cường chống phá. Chúng đã tán phát tài liệu “muốn Quân đội trung với Đảng thì phải có đặc quyền, đặc lợi” với nội dung xuyên tạc và cho rằng “sân Golf cạnh sân bay Tân Sơn Nhất đang trở thành biểu tượng cho sự mâu thuẫn lợi ích của Quân đội với lợi ích của người dân ngày càng gay gắt và Quân đội muốn trung thành với Đảng thì phải có đặc quyền, đặc lợi riêng”. Ngoài ra, một số hội, đoàn dân sự như “diễn đàn xã hội dân sự”, “câu lạc bộ Lê Hiếu Đằng”, “câu lạc bộ Phan Tây Hồ” và một số cá nhân trong đó có Nguyễn Trần Hải (tự xưng là cựu sĩ quan Hải quân nhân dân Việt Nam) cùng ký tên vào “thư ngỏ” gửi Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc với nội dung: Phản đối thái độ tham lam bất hợp tác của một số “nhóm lợi ích” và một số “thế lực” trong Quân đội; đề nghị Chính phủ tổ chức hội thảo về việc thu hồi sân Golf; thu hồi toàn bộ đất sử dụng không đúng mục đích để phục vụ công ích. Đồng thời, chúng kêu gọi người dân hưởng ứng thư ngỏ bằng cách ký tên và gửi về địa chỉ thuhoisangolf@gmail.com... Những nội dung chống phá của chúng là phản động, bóp méo sự thật; tung tin thất thiệt với hình ảnh phản cảm trên các trang mạng xã hội, gây tâm lý hoài nghi, hoang mang trong các tầng lớp Nhân dân và cán bộ, chiến sĩ làm ảnh hưởng xấu đến tình hình chính trị nội bộ, bản chất, truyền thống, uy tín của Quân đội và hình ảnh tốt đẹp “Bộ đội Cụ Hồ”.
          Để kịp thời đấu tranh, ngăn chặn âm mưu, thủ đoạn và các hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, cấp ủy, chỉ huy các cơ quan, đơn vị cần tiếp tục quán triệt sâu sắc và triển khai thực hiện nghiêm túc các chỉ thị, quy định của Đảng, Nhà nước, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, Tổng cục Chính trị về công tác bảo đảm an toàn thông tin, công tác bảo vệ chính trị nội bộ; quán triệt, tổ chức thực hiện nghiêm túc Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến” “tự chuyển hóa” trong nội bộ; Thông tư số 202/2016/TT-BQP ngày 12/12/2016 của Bộ Quốc phòng quy định về bảo đảm an toàn thông tin trong Quân đội; Chỉ thị số 03/CT-BQP ngày 23/01/2014 của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng về tăng cường công tác bảo đảm thông tin và một số vấn đề tổ chức hoạt động tác chiến không gian mạng; Công văn số 1024 ngày 15/6/2017/CT-TH của Tổng cục Chính trị về chỉ đạo định hướng tư tưởng trong Quân đội xung quanh dự án sân Golf khu vực sân bay Tân Sơn Nhất và các văn bản khác có liên quan đến công tác bảo đảm an ninh, an toàn thông tin, bảo vệ bí mật của Đảng, Nhà nước và Quân đội.
          Làm tốt công tác tuyên truyền, giáo dục cho mọi cán bộ, chiến sĩ nâng cao bản lĩnh chính trị, tin tưởng tuyệt đối vào chủ trương, đường lối lãnh đạo của Đảng, nhận thức sâu sắc nhiệm vụ của Quân đội và đơn vị; nâng cao ý thức cảnh giác, nhận rõ và chủ động phòng ngừa, đấu tranh, ngăn chặn kịp thời âm mưu, thủ đoạn, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch; tích cực bảo vệ bản thân, bảo vệ nội bộ cơ quan, đơn vị. Quản lý chặt chẽ các mối quan hệ quân nhân, quản lý việc sử dụng các thiết bị điện tử thông minh trong cơ quan, đơn vị. Khi phát hiện các thông tin, hình ảnh, clip có nội dung tác động xấu đến Quân đội bị phát tán trên các trang mạng xã hội, Internet phải kịp thời báo cáo cấp trên; đồng thời phối hợp chặt chẽ với các cơ quan chức năng tiến hành các biện pháp xử lý, ngăn chặn, bóc gỡ kịp thời, không để tán phát rộng. Chủ động nắm, quản lý, dự báo, định hướng tư tưởng cho cán bộ, chiến sĩ và Nhân dân trước các thông tin xấu độc, ảnh hưởng đến bản chất, truyền thống, uy tín của Quân đội. Phát huy vai trò các cơ quan chức năng, cơ quan nghiên cứu, cơ quan báo chí, các học viện, nhà trường; đội ngũ các nhà khoa học trong Quân đội, đẩy mạnh đấu tranh chuyên sâu; mở rộng chia sẻ, bình luận, lan tỏa thông tin tích cực trên không gian mạng; tăng cường đấu tranh trước các luận điệu chống phá Quân đội của các thế lực thù địch; tuyên truyền sâu rộng bản chất, truyền thống tốt đẹp của “Bộ đội Cụ Hồ”; những tấm gương bình dị, cao quý, hành động dũng cảm của cán bộ, chiến sĩ trong thực hiện nhiệm vụ, gương người tốt, việc tốt. Phối hợp chặt chẽ với cấp ủy, chính quyền địa phương nắm chắc tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội và âm mưu, thủ đoạn hoạt động chống phá của các phần tử xấu trên địa bàn đóng quân; chủ động xây dựng kế hoạch, phương án phối hợp xử lý tốt các vụ việc, tình huống phức tạp xảy ra, giữ vững đơn vị an toàn, địa bàn an toàn, hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao.
NHÂN TRẦN














Thứ Hai, 27 tháng 11, 2017

VÀ BẠO LOẠN LẬT ĐỔ TRÊN ĐỊA BÀN QUÂN KHU 7
Chiến lược "Diễn biến hoà bình" của các thế lực thù địch nhằm xoá bỏ chế độ chính trị xã hội của các nước tiến bộ, trước hết là các nước xã hôi chủ nghĩa (XHCN) chủ yếu bằng biện pháp phi quân sự; núp dưới chiêu bài tự do, dân chủ, nhân quyền, kích động các mâu thuẫn tôn giáo, dân tộc, sắc tộc; triệt để khai thác và lợi dụng những khó khăn, sai sót của nhà nước hiện hành làm trầm trọng thêm tình hình; thường “diễn biến hoà bình” được kết hợp với thủ đoạn bạo loạn lật đổ. Ở các thành phố lớn, nơi có đông dân cư và cơ cấu xã hội là mảnh đất hứa cho chúng thực hiện chiến lược đó. Từ cách hiểu trên, ta cần tìm hiểu những đặc điểm của các thành phố lớn trên địa bàn Quân khu 7. Trong đó đặc biệt chú ý đến những vấn đề do lịch sử để lại và thực trạng xã hội làm cơ sở lý luận và thực tiễn cho việc đề phòng và giải quyết các trường hợp bạo loạn (nếu xảy ra).
Trên địa bàn Quân khu 7 có 5 thành phố lớn là: Thành phố Hồ Chí Minh, Biên Hoà, Vũng Tàu, Đà Lạt, Phan Thiết. Ngoài ra còn có một số thị xã lớn đang phát triển rất nhanh như Bình Dương... Trong số đó có 3 thành phố quan trọng nhất đang là tam giác trọng điểm kinh tế của đất nước (Thành phố Hồ Chí Minh - Biên Hoà - Vũng Tàu), đồng thời cũng là trọng điểm chống phá bằng “diễn biến hoà bình” của kẻ địch... Ba thành phố trên đều có lịch sử hình thành rất sớm (Sài Gòn và Biên Hoà có từ thế kỷ XVII - thời nhà Nguyễn; Vũng Tàu có từ thời Pháp thuộc); một số thành phố như Phan Thiết tuy mới, song tất cả đã trải qua các chế độ chính trị: phong kiến, thuộc địa thực dân cũ và thực dân mới, XHCN. Trong đó thời gian tồn tại dưới chế độ XHCN còn rất ngắn so với thời gian dưới chế độ thực dân phong kiến, cho nên những vấn đề lịch sử để lại là rất quan trọng mà chúng ta cần phải nghiên cứu... Trong thời phong kiến, thực dân, Sài Gòn luôn là trung tâm chính trị, kinh tế, quân sự của cả Nam Bộ, ở đó giai cấp công nhân hình thành sớm và đấu tranh rất mạnh cùng với tầng lớp dân nghèo, nhưng cũng là nơi tập trung đông nhất các thế lực phản động của bọn xâm lược và tay sai. Đó cũng là nơi du nhập sớm nhất và phát triển mạnh nhất lối sống của chủ nghĩa thực dân cũ và mới, tạo ra một lớp người chuyên sống bằng cách lừa đảo, trộm cắp và những nghề không lương thiện.
Sau ngày giải phóng hoàn toàn Miền Nam (30.4.1975), trong một thời gian ngắn, các tệ nạn xã hội tạm lắng xuống, sau đó lại phục hồi dần trong giai đoạn khủng hoảng kinh tế và có điều kiện phát triển trong cơ chế thị trường, tạo ra lớp người mới với lối sống cũ. Thành phần này là đối tượng móc nối chủ yếu của các thế lực phản động để thực hiện thủ đoạn bạo loạn, vì họ rất dễ bị mua chuộc bằng tiền và thường hành động thiếu trách nhiệm với bản thân và cộng đồng. Ngoài ra, một số ngụy quân, ngụy quyền vẫn chưa từ bỏ hận thù... họ cũng rất dễ bị kích động và bị lợi dụng vào các việc chống đối chính quyền. Mặt khác, theo "Kế hoạch hậu chiến", số người gài lại để chống phá ta hầu hết ở các thành phố lớn. Bọn này tạo được nhiều vỏ bọc khác nhau - trong đó có những tên đội lốt tôn giáo để chống phá cách mạng. Đây là lực lượng chủ yếu thúc đẩy chiến lược “diễn biến hoà bình” và tổ chức bạo loạn khi có thời cơ.
Địa bàn Quân khu 7 có hơn 500 km đường biên giới trên đất liền và hơn 300km bờ biển. Những nơi đây địa hình khá phức tạp nên bọn phản động từ bên ngoài thường xuyên tìm cách xâm nhập để vào các thành phố lớn. Trên đây là những lực lượng chủ yếu có thể tạo ra và tham gia vào các hoạt động bạo loạn ở các thành phố lớn. Tuy nhiên, nếu chỉ có các lực lượng này thì dù có được các thế lực bên ngoài hỗ trợ cũng không thể tạo ra được các hoạt động có tính chất bạo loạn nếu như chúng không kích động lôi kéo được một số bộ phận quần chúng nhân dân. Vậy chúng ta cần tìm hiểu những khả năng nào quần chúng nhân dân có thể bị kích động.
Chúng ta đều hiểu, những người dân bình thường nếu không có điều gì bức xúc về quyền lợi vật chất hoặc tinh thần thì bọn người xấu dù có kích động thế nào họ cũng không bỏ công việc làm ăn để chạy theo những việc vô bổ. Như vậy, người dân bị kích động hoặc bị lừa bịp chỉ khi nào bản thân họ có sự bất bình. Có hai nguyên nhân cơ bản dẫn đến sự bất bình đó là:
Một là, do các cấp chính quyền cơ sở không thi hành đúng các chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước, vi phạm quyền làm chủ của nhân dân, xâm hại đến quyền lợi vật chất và tinh thần của họ.
Hai là, một số người dân chưa giác ngộ về quyền lợi lâu dài của xã hội, của đất nước, chỉ lo cho quyền lợi trước mắt của cá nhân, gia đình, từ đó nảy sinh tâm lý, thái độ, hành vi bất bình. Ngay cả do nguyên nhân này thì suy cho cùng cũng là do chính quyền cơ sở chưa làm tốt công tác tuyên truyền, giải thích cho nhân dân. Chính quyền cơ sở có vai trò cực kỳ quan trọng đối với vấn đề nhân dân có hiểu và ủng hộ những chủ trương, chính sách của Đảng hay không? Nhưng trên thực tế, ở một số nơi, chính quyền cơ sở của chúng ta còn rất yếu và dường như chưa được chú ý một cách thích đáng để nâng cao trình độ cho đội ngũ cán bộ này.
Khi nghiên cứu về âm mưu “diễn biến hoà bình”, bạo loạn lật đổ, chúng ta không nên quên một lực lượng đồng minh rất quan trọng của chúng là bọn tham nhũng. Bản chất của những kẻ tham nhũng là cá nhân, cơ hội. Chúng ra sức nói hay nói tốt để "leo cao" nhưng khi tình hình xã hội có biến động thì chúng là người đầu tiên "trở cờ" biến thành lực lượng đối lập, liên kết với các thế lực chống đối khác. Đây là lực lượng tiềm ẩn nguy hiểm, vì chúng không đáng tin cậy trong thực thi kế hoạch cụ thể của các phương án chống bạo loạn lật đổ. Ngay cả khi chưa "trở cờ" thì chúng vẫn là lực lượng chủ yếu "làm nghèo đất nước", làm băng hoại đạo đức. Trực tiếp tạo ra nỗi bất bình của nhân dân để cho bọn kích động bạo loạn lợi dụng tình trạng này.
Khi nghiên cứu vấn đề phòng, chống “diễn biến hoà bình”, bạo loạn lật đổ, chúng ta đều quán triệt quan điểm lấy biện pháp "phòng" là chính nhưng không loại trừ khả năng nó xảy ra nên phải nghiên cứu cả các biện pháp "chống". Từ những cơ sở phân tích về lực lượng và nguyên nhân xảy ra bạo loạn lật đổ như trên ta thấy hoàn toàn có thể đề phòng được nếu ta biết vấn đề cốt lõi nằm ở đâu? Một bộ phận quần chúng nhân dân ở đâu đó có bất bình với chính quyền thì đó không phải là lực lượng nòng cốt trong bạo loạn lật đổ. Phải hiểu là bọn phản động đã lợi dụng những bất bình ấy vào mục đích của chúng. Như vậy, vấn đề "phòng" bạo loạn lật đổ phải thực hiện ở tầm vĩ mô, mà thực chất là xây dựng bộ máy chính quyền vững mạnh, chống tham nhũng và nâng cao trình độ, phẩm chất của cán bộ chính quyền các cấp, nhất là cán bộ chính quyền cơ sở, những người trực tiếp tiếp xúc với nhân dân.
Từ những quan điểm trên và từ kinh nghiệm thực tế giải quyết một số "điểm nóng" trên địa bàn Quân khu những năm gần đây, ta có thể rút ra một số vấn đề chính sau:
Một là, ở mỗi "điểm nóng" có nhiều đối tượng, mỗi đối tượng có cách hiểu vấn đề và mục đích đấu tranh khác nhau nên trong quá trình trấn an, giải thích cần kết hợp với phân hoá lực lượng bằng thái độ chân thành đối với những bất bình chính đáng của nhân dân, đồng thời kiên quyết với những kẻ chủ mưu gây rối.
Hai là, không sử dụng vũ lực trước, không sử dụng vũ khí đối với những đối tượng không có vũ khí, nếu ta không làm như vậy tức là mắc mưu khiêu khích của kẻ địch và làm cho sự kích động của quần chúng càng tăng lên.
Ba là, cô lập "điểm nóng", cách ly nó với nhân dân càng xa càng tốt, cụ thể là ở thành phố, nếu có điểm nóng thì phải hướng dẫn đổi hướng giao thông từ xa.
Trên đây là một số nội dung về phòng, chống chiến lược “diễn biến hoà bình”, bạo loạn lật đổ trên địa bàn Quân khu 7, mọi người cần phải cảnh giác và tích cực đấu tranh làm thất bại những âm mưu, thủ đoạn thâm độc của các thế lực thù địch góp phần bảo vệ vững chắc an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội trên địa bàn Quân khu./.
BIỂN RỘNG

Thứ Năm, 23 tháng 11, 2017

Một số vấn đề về sự tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo được ghi trong Hiến pháp và pháp luật của Việt Nam và Mỹ

Trong những năm gần đây người ta hay thấy việc nước Mỹ có những nhận định, đánh giá liên quan đến vấn đề tôn giáo ở một số nước, trong đó có Việt Nam. Thông qua những cái gọi là báo cáo về tình hình tôn giáo được dựa trên những căn cứ của riêng họ. Với những nhận xét đó nước Mỹ đã khiến người ta cảm nhận rằng vấn đề tôn giáo ở Việt Nam thật sự đang rất tồi tệ. Nhất là khi các cơ quan chức năng của Việt Nam tiếp tục bắt giữ xử lý những đối tượng vi phạm pháp luật, trong đó một số đối tượng là giáo dân, như đã thành thói quen, trên một số phương tiện truyền thông nước ngoài lập tức tuyên truyền xuyên tạc, bóp méo sự thật nhằm chống phá Nhà nước Việt Nam, họ vu cáo rằng nước Việt Nam “đàn áp tôn giáo”, vi phạm tự do tôn giáo. Nhưng thực tế thì không phải như vậy; những khẳng định hay báo cáo về vấn đề tôn giáo ở Việt Nam là không chính xác hoặc thậm chí là rất sai lầm. Ở Việt Nam, người dân được Nhà nước bảo hộ trên cơ sở pháp luật; hoàn toàn được thực hiện những quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong phạm vi pháp luật cho phép. Các quy định liên quan đến đến hoạt động tôn giáo được Nhà nước Việt Nam quy định rõ ràng và cụ thể trong các văn bản pháp luật như trong Hiến pháp Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Luật về tín ngưỡng, tôn giáo của pháp luật Việt Nam được Quốc hội Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, ban hành ngày 18 tháng 11 năm 2016 có quy định rõ trong điều 3, chương I về Trách nhiệm của Nhà nước trong việc bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo: 1. Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của mọi người; bảo đảm để các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật.
2. Nhà nước tôn trọng, bảo vệ giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp của tín ngưỡng, tôn giáo, truyền thống thờ cúng tổ tiên, tôn vinh người có công với đất nước, với cộng đồng đáp ứng nhu cầu tinh thần của Nhân dân.
3. Nhà nước bảo hộ cơ sở tín ngưỡng, cơ sở tôn giáo và tài sản hợp pháp của cơ sở tín ngưỡng, tổ chức tôn giáo.
Về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của mọi người được ghi tại mục 1, điều 6, chương II: Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào.
Mục 1, điều 5, chương I quy định về  các hành vi bị nghiêm cấm “Cấm  phân biệt đối xử, kỳ thị vì lý do tín ngưỡng, tôn giáo.           
Vậy còn ở nước Mỹ, nước tự xưng là tự do tôn giáo chuẩn mực thì sao?
Thực tế ở Mỹ, tuy rằng luật pháp cũng có quy định một số điều liên quan đến vấn đề tôn giáo nhưng tự do tôn giáo ở Mỹ chỉ là sự tự do lựa chọn tôn giáo và tự do thực hành các lễ nghi tôn giáo. Công dân Mỹ có thể tự do trong việc lựa chọn tôn giáo, nhưng họ lại ít có tự do trong việc từ bỏ tôn giáo. Thông thường, mỗi người dân Mỹ đều phải thuộc về một tôn giáo nào đó và tham gia một tổ chức tôn giáo nào đó. Trên thực tế những người không theo tôn giáo nào hay thậm chí có thái độ thờ ơ với tôn giáo, và hơn nữa là những người có quan điểm vô thần thường bị hạn chế về quyền lợi. Ở một số bang, sự hạn chế này còn được quy định bằng luật pháp của bang. Có thể lấy ra đây một vài ví dụ như:Theo Hiến pháp của bang New Hampshire được thông qua năm 1784, những người không phải là tín đồ Tin lành thì không thể được vào Hạ viện hoặc Thượng viện của bang này; Hiến pháp của bang Delaware được thông qua năm 1776 có điều khoản quy định khi được bầu vào Hạ viện hay được bổ nhiệm vào chức vụ nào đó người được bầu phải tuyên thệ rằng mình tin vào Chúa Cha và Chúa Giêsu Kitô, con một của Người và Chúa Thánh thần, đồng thời xác tín Kinh Thánh – Cựu ước và Tân ước (Điều khoản này được ghi trong Hiến pháp bang Delaware cho tới tận năm 1972); Hiến pháp bang North Carolina quy định rằng, nếu người nào phủ nhận sự tồn tại của Chúa, phủ nhận tính xác thực của Tin Lành giáo, tính thiêng liêng của Cựu ước và Tân ước hoặc theo tôn giáo không dung hợp với tự do và an ninh của bang thì sẽ không có quyền giữ các chức vụ. Còn ở bang Maryland người ta tỏ thái độ không thể dung thứ đối với những người không thuộc Giáo hội Kitô giáo và không tin vào những tín điều của Chúa Ba Ngôi; Hiến pháp bang Massachusetts được thông qua năm 1780 cũng quy định rằng, thống đốc, phó thống đốc bang, hạ nghị sĩ và thượng nghị sĩ trước khi nhậm chức phải kí một tuyên bố rằng họ theo Kitô giáo và tin tưởng một cách vững chắc vào tính xác thực của tôn giáo này.Hay như mặc dù vẫn có khoảng 17% người dân Mỹ không theo một tôn giáo nào nhưng Chính phủ Mỹ vẫn bắt buộc họ phải sử dụng đồng Dollas có in dòng chữ “In God We Trust” (Chúng ta tin tưởng vào Chúa) và  trong rất nhiều hoạt động chính thức, kể cả các kỳ họp Quốc hội người Mỹ bắt đầu bằng việc cầu kinh Thiên Chúa giáo; trong lễ nhậm chức, tân tổng thống Mỹ đặt tay lên một cuốn Kinh Thánh và tuyên thệ…Nước Mỹ là một quốc gia đa sắc tộc, đa tôn giáo, vốn luôn tự cho mình là “thế giới tự do”, nếu theo các quy định trên của Hiến pháp của một số bang nước Mỹ, giả sử có một công dân Mỹ nào đó đang theo đạo Phật hay đạo Hồi hoặc các tôn giáo khác mà lại muốn có một vị trí quan trọng hàng đầu trong bộ máy chính quyền của nước Mỹ thì có lẽ điều kiện đầu tiên người đó phải cải sang các dòng của Kitô giáo, chứ không phải do năng lực vượt trội mà được tin dùng…Cái gọi là “tự do” hay “chuẩn mực” về tín ngưỡng, tôn giáo của nước Mỹ lại ở chỗ này sao…Liệu như vậy ở nước Mỹ bây giờ có sự phân biệt đối xử, kỳ thị vì lý do tín ngưỡng, tôn giáo hay không?
 Khi nêu ra những điều này, suy nghĩ của cá nhân tôi không nhằm chê trách về sự “công bằng” trong vấn đề tín ngưỡng, tôn giáo của nước Mỹ. Tuy nhiên những thứ đó lại được Mỹ cho là “chuẩn mực” để cho mình cái quyền được can thiệp, xem xét và đánh giá vấn đề tôn giáo ở một số nước, thì đây lại là một việc hết sức phi lý và nực cười. Vấn đề tôn giáo ở Việt Nam được luật pháp Việt Nam quy định là phù hợp với tâm nguyện của người dân, phù hợp với văn hóa, truyền thống cũng như lịch sử đất nước. Tâm nguyện ấy khác với tâm nguyện của người dân Mỹ, truyền thống văn hóa ấy đã có hàng ngàn năm  nên nước Mỹ hãy xem lại chính bản thân mình trước áp đặt cái gọi là “tự do tôn giáo”  như nước Mỹ.

Đức Bách






























NHẬN DIỆN THỦ ĐOẠN XUYÊN TẠC VỀ LĨNH VỰC
QUỐC PHÒNG - AN NINH VÀ NHỮNG BIỆN PHÁP PHÒNG CHỐNG
Trong những năm qua, các thế lực thù địch đã và đang đẩy mạnh nhiều hoạt tuyên truyền, xuyên tạc chống phánhững vấn đề đề liên quan đến quốc phòng - an ninh của chúng ta, nhằm mục đich suy giảm niềm tin của nhân dân vào  đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về sự nghiệp quân sự, quốc phòng và lực lượng vũ trang
Lĩnh vực quốc phòng - an ninh và lực lượng vũ trang là một trong những mục tiêu trọng yếu phải tập trung phá hoại, làm suy yếu của chiến lược “Diễn biến hòa bình” chống phá Việt Nam. Chúng tham vọng ảo tưởng nhằm xóa bỏ vai trò lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với lĩnh vực quốc phòng - an ninh và lực lượng vũ trang. “Phi chính trị hóa” lực lượng vũ trang, làm cho lực lượng vũ trang xa rời mục tiêu, lý tưởng, mất phương hướng chính trị, không thực hiện đúng chức năng...luôn là mục tiêu xuyên suốt của các thế lực thù địch. Vì thế, chúng tập trung phá hoại bằng nhiều thủ đoạn hết sức đa dạng, tinh vi và thâm độc, trong đó, thông tin xuyên tạc về lĩnh vực quốc phòng - an ninh, mà trọng điểm là Quân đội và Công an đang được sử dụng như một công cụ hữu hiệu để thực hiện mưu đồ trên.
Chúng đưa ra các thông tin vu khống, bịa đặt, không đúng sự thật về tình hình quốc phòng - an ninh của đất nước. Đó là những thông tin không có căn cứ khoa học, thực tiễn, hoặc là những thông tin, luận điệu dựa trên những sự kiện quốc phòng - an ninh có thật, đã và đang diễn ra nhưng được lập luận theo lối xảo trá, “đánh lận con đen”, thêu dệt, thổi phồng một cách vụng về, nhằm xuyên tạc bản chất, hướng người nghe, người đọc đến những suy diễn tiêu cực, kích động người tiếp nhận thông tin tiến hành các hoạt động biểu tình, chống phá gây mất trật tự an ninh, an toàn xã hội. Nội dung thông tin và luận điệu xuyên tạc trên lĩnh vực quốc phòng - an ninh hiện nay hết sức đa dạng, với nhiều biểu hiện khác nhau, nhưng không khó nhận diện. Chủ yếu vẫn là: đòi “phi chính trị hóa” Quân đội và Công an, phủ nhận nguyên tắc Đảng lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với lực lượng vũ trang và sự nghiệp quốc phòng, an ninh; tuyên truyền xuyên tạc đường lối, chủ trương của Đảng về công tác quốc phòng, an ninh, xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân, xây dựng nền quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân, nhất là “thế trận lòng dân”; xuyên tạc mục đích của các hợp đồng mua bán vũ khí, trang bị cho Quân đội và Công an, quy kết rằng: Việt Nam tăng cường tiềm lực quốc phòng - an ninh để chống lại một nước thứ ba, khơi mào cho một cuộc chạy đua vũ trang trong khu vực; xuyên tạc mục đích các chuyến thăm của lãnh đạo cấp cao của Đảng, Nhà nước và Quân đội ta tới các nước và nguyên thủ các nước tới thăm Việt Nam, nhất là chuyến thăm tới các nước lớn; xuyên tạc, bóp méo tình hình khiếu kiện, mất ổn định và cách giải quyết của lãnh đạo, chính quyền ở một số địa phương; xuyên tạc lịch sử và thực trạng tình hình biên giới, hiện trạng trên biển. Thậm chí, chúng còn dàn dựng những tình huống va chạm với cảnh sát giao thông để quay phim, chụp ảnh rồi tuyên truyền xuyên tạc bản chất sự việc. Chúng đặc biệt chú ý đến trạng thái tâm lý của quân và dân ta, của dư luận xã hội để tuyên truyền, xuyên tạc vị trí, chức năng, nhiệm vụ của Quân đội và Công an; đặt lợi ích kinh tế đối lập với lợi ích quốc phòng - an ninh; đối lập giữa hai nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, nhằm phủ định vai trò của quốc phòng, an ninh trong sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta...
Không khó để nhận thấy lực lượng tiến hành các hoạt động thông tin và đưa ra những luận điệu xuyên tạc trên lĩnh vực quốc phòng - an ninh gồm cả những đối tượng phản động trong nước và ngoài nước, những kẻ cơ hội chính trị, thành phần bất mãn với chế độ, những kẻ ham lợi ích vật chất, bị thế lực thù địch móc nối, mua chuộc, dụ dỗ. Bên cạnh đó, cũng có một số người do kém hiểu biết, bị thiếu thông tin chính thống hoặc người có hiểu biết nhưng bàng quan và thiếu ý thức chính trị đã có những hành động, phát ngôn không đúng, vô tình tiếp tay tuyên truyền cho các thế lực thù địch, phản động.
Để thực hiện các hoạt động tuyên truyền xuyên tạc, ngoài việc sử dụng các phương tiện truyền thống, hiện nay chúng triệt để lợi dụng in-tơ-nét với các trang mạng của một số đài nước ngoài phát tiếng Việt, đặc biệt là Facebook và Blog (với khả năng siêu kết nối, Facebook đang là lựa chọn số một cho hoạt động tuyên truyền, xuyên tạc của chúng). Đối tượng chúng hướng đến để tuyên truyền những thông tin, luận điệu xuyên tạc là các tầng lớp nhân dân, nhưng trọng tâm, trọng điểm là giới trẻ (thanh niên, học sinh, sinh viên) nhằm tạo lập lực lượng đối lập với Đảng, Nhà nước ta.
Các hoạt động thông tin và luận điệu xuyên tạc trên lĩnh vực quốc phòng - an ninh được tiến hành ở mọi thời điểm, nhưng cường độ cao và quyết liệt nhất vẫn là vào các ngày lễ lớn của dân tộc, khi diễn ra sự kiện chính trị quan trọng của đất nước, các hoạt động đối ngoại, nhất là đối ngoại quốc phòng - an ninh, hoặc khi tình hình an ninh, chính trị - xã hội, tình hình biên giới, biển, đảo có những diễn biến phức tạp, nhạy cảm.
Mục đích của những thông tin và luận điệu xuyên tạc đó là làm xấu hình ảnh của Quân đội và Công an trước nhân dân, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, nhằm tạo ra sự nghi ngờ, gây tâm lý hoang mang trong nhân dân, làm xói mòn niềm tin của nhân dân vào đường lối lãnh đạo, cách thức giải quyết sự việc liên quan đến quốc phòng - an ninh của Đảng và Nhà nước ta. Đồng thời, truyền bá tư tưởng, đạo đức, lối sống phương Tây vào Quân đội, Công an, làm cho cán bộ, chiến sĩ mơ hồ, lơi lỏng nhiệm vụ, rơi vào lối sống thực dụng, từng bước tác động nhằm làm phai nhạt mục tiêu, lý tưởng chiến đấu, xa rời bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân, tính dân tộc và truyền thống tốt đẹp của "Bộ đội Cụ Hồ". Cùng với các hoạt động khác, mục tiêu cuối cùng của chúng là phủ định sự lãnh đạo của Đảng ta đối với Quân đội và Công an, vô hiệu hóa Quân đội, Công an khi đất nước có biến động.
Quán triệt quan điểm của Đảng: “…kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc...”; đồng thời, để hiện thực hóa phương châm: “Chủ động đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch; ngăn chặn, phản bác những thông tin, luận điệu sai trái…”, cần thực hiện tốt một số biện pháp sau:
Thứ nhấtnâng cao nhận thức, nêu cao tinh thần cảnh giác của nhân dân trước những thông tin và luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch liên quan đến lĩnh vực quốc phòng - an ninh. Điều này có ý nghĩa quyết định đến hiệu quả đấu tranh phản bác các luận điệu sai trái, thù địch về lĩnh vực quốc phòng - an ninh. Có nhận thức đúng tính chất nguy hại của sự việc mới có ý thức cảnh giác, đề phòng. Do đó, công tác giáo dục, tuyên truyền cho nhân dân về lĩnh vực quốc phòng - an ninh phải coi trọng điểm này, phải làm cho nhân dân thấy rõ đâu là thông tin chính thống, đâu là thông tin bịa đặt, nhằm dụng ý xấu để cảnh giác. Việc làm này phải được tiến hành một cách kiên trì, bền bỉ, thường xuyên, liên tục, chú trọng những vùng có lịch sử chính trị - xã hội phức tạp, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo, nơi đông đồng bào dân tộc thiểu số, đồng bào có đạo sinh sống; địa bàn có vị trí chiến lược về quốc phòng - an ninh. Cần tập trung tuyên truyền làm rõ vị trí, vai trò của công tác quốc phòng - an ninh, mối quan hệ giữa an ninh và quốc phòng, giữa phát triển kinh tế - xã hội với bảo đảm quốc phòng - an ninh; an ninh biên giới, an ninh biển; chủ quyền biển đảo,... hướng tới thống nhất nhận thức, tư tưởng, ý chí và hành động, đúng với quan điểm: “Kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc biên giới và chủ quyền biển, đảo, vùng trời của Tổ quốc…”3. Phương thức tuyên truyền cần đa dạng, phong phú, như thông qua hệ thống thông tin đại chúng, báo chí, các trang mạng xã hội, qua giáo dục, phổ biến, bồi dưỡng kiến thức quốc phòng - an ninh cho các đối tượng trong xã hội.
Thứ haicung cấp thông tin chính thống về lĩnh vực quốc phòng - an ninh đến quần chúng nhân dân một cách kịp thời, chính xác, khách quan, trung thực. Quốc phòng - an ninh là lĩnh vực đặc thù, có liên quan trực tiếp đến sự an nguy của quốc gia, dân tộc. Tuy nhiên, trong thời đại của in-tơ-nét, một sự kiện xảy ra chỉ trong thời gian rất ngắn đã lan khắp toàn cầu. Vì vậy, càng chủ động giữ vững trận địa thông tin, cung cấp thông tin chính thống, kịp thời và minh bạch, càng ngăn chặn được các luồng thông tin thất thiệt, thổi phồng, bóp méo, xuyên tạc sự việc, hoặc suy diễn tiêu cực, gây hoang mang, lo lắng, bán tín bán nghi trong xã hội. Tất nhiên, trừ các thông tin bí mật quân sự, bí mật quốc gia, các thông tin khác, nhất là về các sự kiện lớn, đột xuất, phức tạp, nhạy cảm, có thể gây bất ổn xã hội, thì luôn cần có thông tin chính thống, kịp thời từ cơ quan chức năng, từ người có thẩm quyền phát ngôn cho báo chí, đó chính là sự định hướng dư luận hiệu quả nhất.
Hiện nay, mạng in-tơ-nét là phương tiện được các thế lực thù địch sử dụng nhiều nhất, là trận địa thông tin nóng bỏng nhất, nếu không chủ động thông tin minh bạch, chính xác, kịp thời đáp ứng nhu cầu của công chúng thì trận địa sẽ bị bỏ trống và đương nhiên kẻ thù sẽ ào lên chiếm lĩnh. Vì vậy, trong khi việc kiểm soát, chế tài các thông tin bịa đặt, xuyên tạc, vu khống còn gặp nhiều rào cản, khó khăn, thì cách tốt nhất để đẩy lùi thông tin bịa đặt, sai lệch là phải chủ động cung cấp thông tin chính xác, kịp thời và minh bạch cho nhân dân. Để thông tin minh bạch, chính xác, kịp thời, đáp ứng nhu cầu của công chúng, phải bảo đảm chế độ phát ngôn và cung cấp thông tin cho báo chí theo đúng quy định của pháp luật, không để xảy ra tình trạng báo chí “đói” nguồn thông tin chính thống và chính xác.
Thứ baxây dựng lực lượng đấu tranh phản bác những thông tin bịa đặt, xuyên tạc về quốc phòng - an ninh. Trong đó, tập trung vào đội ngũ nhà báo, nhà nghiên cứu, thông tin viên, tuyên truyền viên trên lĩnh vực quốc phòng - an ninh. Đây là lực lượng đưa đường lối, quan điểm, chủ trương, chính sách về quốc phòng - an ninh của Đảng, Nhà nước đến với quần chúng nhanh và hiệu quả nhất, là những người trực tiếp góp phần đập tan thông tin và luận điệu xuyên tạc của kẻ thù. Do vậy, cần xây dựng lực lượng này có bản lĩnh chính trị vững vàng, có trình độ lý luận cao, có khả năng diễn đạt, luận chiến thuyết phục, có nhiệt huyết, dũng khí, quyết tâm đấu tranh để bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ; chú trọng nâng tầm lý luận sắc sảo, kinh nghiệm cho họ, bảo đảm để lực lượng này là nòng cốt, xung kích trong đấu tranh, phản bác những thông tin bịa đặt, xuyên tạc về quốc phòng - an ninh, bảo vệ vững chắc trận địa tư tưởng của Đảng.
Nhận diện, đấu tranh phản bác những luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch trên lĩnh vực quốc phòng - an ninh là cuộc chiến lâu dài, khó khăn, phức tạp, đòi hỏi phải phát huy sức mạnh tổng hợp của các tổ chức, lực lượng. Trong đó, Quân đội nhân dân và Công an nhân dân có vai trò rất quan trọng. Sự phối hợp đồng bộ, chặt chẽ của lực lượng này làm nòng cốt cho toàn dân là nhân tố trực tiếp trong đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

                                                                                BẠCH HỔ