Thứ Ba, 5 tháng 12, 2017

TRÊN ĐỊA BÀN QUÂN KHU 7
Chiến lược "Diễn biến hoà bình" của các thế lực thù địch nhằm xoá bỏ chế độ chính trị xã hội của các nước tiến bộ, trước hết là các nước xã hôi chủ nghĩa (XHCN) chủ yếu bằng biện pháp phi quân sự; núp dưới chiêu bài tự do, dân chủ, nhân quyền, kích động các mâu thuẫn tôn giáo, dân tộc, sắc tộc; triệt để khai thác và lợi dụng những khó khăn, sai sót của nhà nước hiện hành, làm trầm trọng thêm tình hình; thường “diễn biến hoà bình” được kết hợp với thủ đoạn bạo loạn lật đổ. Ở các thành phố lớn, nơi có đông dân cư và cơ cấu xã hội là mảnh đất hứa cho chúng thực hiện chiến lược đó. Từ cách hiểu trên, ta cần tìm hiểu những đặc điểm của các thành phố lớn trên địa bàn Quân khu 7. Trong đó đặc biệt chú ý đến những vấn đề do lịch sử để lại và thực trạng xã hội làm cơ sở lý luận và thực tiễn cho việc đề phòng và giải quyết các trường hợp bạo loạn (nếu xảy ra).
Trên địa bàn Quân khu 7 có 5 thành phố lớn là: Thành phố Hồ Chí Minh, Biên Hoà, Vũng Tàu, Đà Lạt, Phan Thiết. Ngoài ra còn có một số thị xã lớn đang phát triển rất nhanh như Bình Dương... Trong số đó có 3 thành phố quan trọng nhất đang là tam giác trọng điểm kinh tế của đất nước (Thành phố Hồ Chí Minh - Biên Hoà - Vũng Tàu), đồng thời cũng là trọng điểm chống phá bằng “diễn biến hoà bình” của kẻ địch... Ba thành phố trên đều có lịch sử hình thành rất sớm (Sài Gòn và Biên Hoà có từ thế kỷ XVII - thời nhà Nguyễn; Vũng Tàu có từ thời Pháp thuộc); một số thành phố như Phan Thiết tuy mới, song tất cả đã trải qua các chế độ chính trị: phong kiến, thuộc địa thực dân cũ và thực dân mới, XHCN. Trong đó thời gian tồn tại dưới chế độ XHCN còn rất ngắn so với thời gian dưới chế độ thực dân phong kiến, cho nên những vấn đề lịch sử để lại là rất quan trọng mà chúng ta cần phải nghiên cứu... Trong thời phong kiến thực dân, Sài Gòn luôn là trung tâm chính trị, kinh tế, quân sự của cả Nam Bộ, ở đó giai cấp công nhân hình thành sớm và đấu tranh rất mạnh cùng với tầng lớp dân nghèo, nhưng cũng là nơi tập trung đông nhất các thế lực phản động của bọn xâm lược và tay sai. Đó cũng là nơi du nhập sớm nhất và phát triển mạnh nhất lối sống của chủ nghĩa thực dân cũ và mới, tạo ra một lớp người chuyên sống bằng cách lừa đảo, trộm cắp và những nghề không lương thiện.
Sau ngày giải phóng hoàn toàn Miền Nam (30.4.1975), trong một thời gian ngắn, các tệ nạn xã hội tạm lắng xuống, sau đó lại phục hồi dần trong giai đoạn khủng hoảng kinh tế và có điều kiện phát triển trong cơ chế thị trường, tạo ra lớp người mới với lối sống cũ. Thành phần này là đối tượng móc nối chủ yếu của các thế lực phản động để thực hiện thủ đoạn bạo loạn, vì họ rất dễ bị mua chuộc bằng tiền và thường hành động thiếu trách nhiệm với bản thân và cộng đồng. Ngoài ra, một số ngụy quân, ngụy quyền vẫn chưa từ bỏ hận thù... họ cũng rất dễ bị kích động và bị lợi dụng vào các việc chống đối chính quyền. Mặt khác, theo "Kế hoạch hậu chiến", số người gài lại để chống phá ta hầu hết ở các thành phố lớn. Bọn này tạo được nhiều vỏ bọc khác nhau - trong đó có những tên đội lốt tôn giáo để chống phá cách mạng. Đây là lực lượng chủ yếu thúc đẩy chiến lược “diễn biến hoà bình” và tổ chức bạo loạn khi có thời cơ.
Địa bàn Quân khu 7 có hơn 500 km đường biên giới trên đất liền và hơn 300km bờ biển. Những nơi đây địa hình khá phức tạp nên bọn phản động từ bên ngoài thường xuyên tìm cách xâm nhập để vào các thành phố lớn. Trên đây là những lực lượng chủ yếu có thể tạo ra và tham gia vào các hoạt động bạo loạn ở các thành phố lớn. Tuy nhiên, nếu chỉ có các lực lượng này thì dù có được các thế lực bên ngoài hỗ trợ cũng không thể tạo ra được các hoạt động có tính chất bạo loạn nếu như chúng không kích động lôi kéo được một số bộ phận quần chúng nhân dân. Vậy chúng ta cần tìm hiểu những khả năng nào quần chúng nhân dân có thể bị kích động.
Chúng ta đều hiểu, những người dân bình thường nếu không có điều gì bức xúc về quyền lợi vật chất hoặc tinh thần thì bọn người xấu dù có kích động thế nào họ cũng không bỏ công việc làm ăn để chạy theo những việc vô bổ. Như vậy, người dân bị kích động hoặc bị lừa bịp chỉ khi nào bản thân họ có sự bất bình. Có hai nguyên nhân cơ bản dẫn đến sự bất bình đó là:
Một là, do các cấp chính quyền cơ sở không thi hành đúng các chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước, vi phạm quyền làm chủ của nhân dân, xâm hại đến quyền lợi vật chất và tinh thần của họ.
Hai là, một số người dân chưa giác ngộ về quyền lợi lâu dài của xã hội, của đất nước, chỉ lo cho quyền lợi trước mắt của cá nhân, gia đình, từ đó nảy sinh tâm lý, thái độ, hành vi bất bình. Ngay cả do nguyên nhân này thì suy cho cùng cũng là do chính quyền cơ sở chưa làm tốt công tác tuyên truyền, giải thích cho nhân dân. Chính quyền cơ sở có vai trò cực kỳ quan trọng đối với vấn đề nhân dân có hiểu và ủng hộ những chủ trương, chính sách của Đảng hay không? Nhưng trên thực tế, ở một số nơi, chính quyền cơ sở của chúng ta còn rất yếu và dường như chưa được chú ý một cách thích đáng để nâng cao trình độ cho đội ngũ cán bộ này.
Khi nghiên cứu về âm mưu “diễn biến hoà bình”, bạo loạn lật đổ, chúng ta không nên quên một lực lượng đồng minh rất quan trọng của chúng là bọn tham nhũng. Bản chất của những kẻ tham nhũng là cá nhân, cơ hội. Chúng ra sức nói hay nói tốt để "leo cao" nhưng khi tình hình xã hội có biến động thì chúng là người đầu tiên "trở cờ" biến thành lực lượng đối lập, liên kết với các thế lực chống đối khác. Đây là lực lượng tiềm ẩn nguy hiểm, vì chúng không đáng tin cậy trong thực thi kế hoạch cụ thể của các phương án chống bạo loạn lật đổ. Ngay cả khi chưa "trở cờ" thì chúng vẫn là lực lượng chủ yếu "làm nghèo đất nước", làm băng hoại đạo đức. Trực tiếp tạo ra nỗi bất bình của nhân dân để cho bọn kích động bạo loạn lợi dụng tình trạng này.
Khi nghiên cứu vấn đề phòng, chống “diễn biến hoà bình”, bạo loạn lật đổ, chúng ta đều quán triệt quan điểm lấy biện pháp "phòng" là chính nhưng không loại trừ khả năng nó xảy ra nên phải nghiên cứu cả các biện pháp "chống". Từ những cơ sở phân tích về lực lượng và nguyên nhân xảy ra bạo loạn lật đổ như trên ta thấy hoàn toàn có thể đề phòng được nếu ta biết vấn đề cốt lõi nằm ở đâu? Một bộ phận quần chúng nhân dân ở đâu đó có bất bình với chính quyền thì đó không phải là lực lượng nòng cốt trong bạo loạn lật đổ. Phải hiểu là bọn phản động đã lợi dụng những bất bình ấy vào mục đích của chúng. Như vậy, vấn đề "phòng" bạo loạn lật đổ phải thực hiện ở tầm vĩ mô, mà thực chất là xây dựng bộ máy chính quyền vững mạnh, chống tham nhũng và nâng cao trình độ, phẩm chất của cán bộ chính quyền các cấp, nhất là cán bộ chính quyền cơ sở, những người trực tiếp tiếp xúc với nhân dân.
Từ những quan điểm trên và từ kinh nghiệm thực tế giải quyết một số "điểm nóng" trên địa bàn Quân khu những năm gần đây, ta có thể rút ra một số vấn đề chính sau:
Một là, ở mỗi "điểm nóng" có nhiều đối tượng, mỗi đối tượng có cách hiểu vấn đề và mục đích đấu tranh khác nhau nên trong quá trình trấn an, giải thích cần kết hợp với phân hoá lực lượng bằng thái độ chân thành đối với những bất bình chính đáng của nhân dân, đồng thời kiên quyết với những kẻ chủ mưu gây rối.
Hai là, không sử dụng vũ lực trước, không sử dụng vũ khí đối với những đối tượng không có vũ khí, nếu ta không làm như vậy tức là mắc mưu khiêu khích của kẻ địch và làm cho sự kích động của quần chúng càng tăng lên.
Ba là, cô lập "điểm nóng", cách ly nó với nhân dân càng xa càng tốt, cụ thể là ở thành phố, nếu có điểm nóng thì phải hướng dẫn đổi hướng giao thông từ xa.
Trên đây là một số nội dung về phòng, chống chiến lược “diễn biến hoà bình”, bạo loạn lật đổ trên địa bàn Quân khu 7, mọi người cần phải cảnh giác và tích cực đấu tranh làm thất bại những âm mưu, thủ đoạn thâm độc của các thế lực thù địch góp phần bảo vệ vững chắc an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội trên địa bàn Quân khu./.

                                                                                                                                             BIỂN RỘNG

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét